Chuyện cướp vợ tày đình giữa hoàng đế và con cái trong cung cấm xưa
Để có được mỹ nữ, không ít hoàng đế dâm loạn đã nhẫn tâm xuống tay với cả con trai của mình để cưỡng đoạt con dâu. Và ngược lại những thái tử ngỗ ngược cũng không ngần ngại mà mặc sức thông dâm với mẹ kế của mình.

Dương Quý phi và sự thật cướp con dâu ẩn sau mối tình lãng mạn, bi thương Đường Minh Hoàng nổi tiếng là ông vua đa tình. Nhắc tới Đường Minh Hoàng, hẳn nhiều người sẽ nghĩ ngay tới câu chuyện tình giữa vị Hoàng đế này với mỹ nhân Dương Ngọc Hoàn, tức Dương Quý phi.
 
Tuy nhiên, có lẽ ít ai còn nhớ Dương Ngọc Hoàn thực ra không phải là một quý phi được tuyển vào cung theo cách truyền thống mà vốn là con dâu được cưới gả đàng hoàng của ông vua đa tình này.
Năm Khai Nguyên thứ 23, tức năm 736, trong một cuộc tuyển chọn mỹ nữ cho ngôi vị Vương phi, Vũ Huệ Phi, một phi tần của Đường Minh Hoàng đã chọn Ngọc Hoàn làm vợ của hoàng tử thứ 18 là Thọ Vương Lý Mạo.
 
Dương Ngọc Hoàn trở thành Thọ Vương phi năm 17 tuổi. Như vậy, xét về thân phận và vai vế, Dương Ngọc Hoàn là con dâu chính thức của Đường Minh Hoàng. 
 
Sự việc bắt đầu khi Vũ Huệ Phi qua đời vì bạo bệnh. Đường Minh Hoàng vì vậy mà buồn rầu, không ăn không ngủ. Lúc này, Cao Lực Sỹ - thai giám thân cận của Đường Minh Hoàng chạy vạy khắp nơi, tìm đủ mọi cách để giải khuây cho chủ nhân. Một hôm, khi qua phủ Thọ Vương, Cao Lực Sỹ nhìn thấy Thọ Vương Phi nhan sắc hơn người thì nghĩ ngay đến việc tiểu mỹ nhân này có thể thay thế vị trí của Vũ Huệ Phi.
 
Nhân buổi hầu vua, Cao Lực Sỹ hết lời ca ngợi sắc đẹp của Thọ Vương Phi với Đường Huyền Tông khiến vị hoàng đế này vô cùng rất tò mò, lập tức sai họ Cao truyền chỉ triệu Thọ Vương Phi vào cung Ôn Tuyền để xem tận mắt.
 
Người ta nói rằng, ngay từ lần đầu chạm mặt ở cung Ôn Tuyền, Đường Minh Hoàng đã chết mê chết mệt cô con dâu họ Dương. Đường Minh Hoàng rất muốn có được người đẹp, tuy nhiên, Ngọc Hoàn đã là gái có chồng, mà theo danh phận chính thức thì lại là con dâu của Huyền Tông. Vì vậy, thân là một Hoàng đế, Đường Minh Hoàng không thể ngang nhiên cướp vợ của con “giữa ban ngày” được. Nhưng cũng vì thế mà Huyền Tông lại đâm ra buồn phiền, mất ăn mất ngủ. Lúc này, Cao Lực Sĩ lại thay Huyền Tông nghĩ ra một cách “thập toàn thập mỹ”.
 
Theo kế sách của Cao Lực Sỹ, Đường Minh Hoàng hạ lệnh cho Ngọc Hoàn làm ni cô trong chùa để tỏ lòng hiếu thuận với Vũ Huệ Phi vừa mất. Một thời gian sau, khi mọi người đã quên mất vị Thọ Vương Phi xinh đẹp, Đường Huyền Tông mới sai người bí mật đưa Dương Ngọc Hoàn vào cung, phong làm Dương Quý Phi. Từ đó, Huyền Tông cùng Dương Ngọc Hoàn ngày đêm quấn quýt bên nhau. Câu chuyện tình huyền thoại và đình đám giữa Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi nổi tiếng trong lịch sử từ đó mới bắt đầu.
 
Vua cha hạ sát con trai để đoạt mỹ nữ

Sở Bình Vương, vua của nước Sở, vì muốn kết thân với nước Tần khi đó đang rất mạnh, nên đã sai sứ giả mang vàng bạc sang hỏi công chúa nước Tần là Mạnh Doanh cho Thái tử Kiến, con trai của mình.
Khi sứ giả trở về, Sở Bình Vương hỏi: “Nhà người đã trông thấy mặt công chúa chưa? Nhan sắc thế nào?” Vị quan trả lời: “Mắt thần nhìn gái đẹp đã nhiều nhưng chưa từng thấy ai đẹp như nàng Mạnh Doanh. Trong cung nước Sở chẳng có ai sánh kịp đã đành, ngay những trang tuyệt sắc ngày xưa như Đắc Kỷ, Ly Cơ e rằng cũng chỉ là tiếng đồn mà thôi, chứ so ra thì nàng Mạnh Doanh đẹp muôn phần họ chưa chắc đã được một”. Nghe vị quan nói vậy, Sở Bình Vương buồn rầu rồi than rằng: “Ta làm vua làm gì cho uổng. Không được gặp người đẹp ấy cũng phí một đời”.
 
 vo-hoang-đe-2-(1).jpeg
 
Thấy vậy, vị quan nọ mới bày cách cho vua khi đón nàng Mạnh Doanh về nước Sở thì đưa thẳng vào hậu cung của mình rồi dùng một cô gái khác mạo danh là Mạnh Doanh đưa vào cung của thái tử Kiến. Thái tử Kiến chưa bao giờ gặp công chúa Mạnh Doanh vì vậy chắc chắn sẽ không biết việc này. Mặc dù cũng thấy chuyện đánh tráo vợ của con này không hợp với luân thường, nhưng vì muốn sở hữu người đẹp, Sở Bình Vương quyết định nghe theo lời của tên cận thần.
 
Sợ thái tử Kiến phát hiện chuyện đánh tráo nên từ khi có được người đẹp Mạnh Doanh, Sở Bình Vương cấm tiệt không cho phép thái tử tùy tiện vào cung. Sau đó, vẫn sợ mọi chuyện sẽ bại lộ, Sở Bình Vương mới sai thái tử Kiến đi trấn giữ tận vùng biên ải xa xôi. Còn hoàng hậu, mẹ thái tử Kiến bị Sở Bình Vương phế bỏ rồi lập nàng Mạnh Doanh xinh đẹp lên làm hoàng hậu.
 
Cô con dâu xinh đẹp là Mạnh Doanh không biết là bị đổi chồng nhưng chẳng hiểu vì chuyện gì khuôn mặt lúc nào cũng buồn rầu. Sở Bình Vương không đành lòng nhìn người đẹp mày châu ủ rột mới hỏi rõ nguồn cơn thì nàng đáp: “Thiếp vẫn mơ tưởng lấy chồng thì vợ chồng vừa đôi phải lứa với nhau. Khi vào cung thiếp mới biết bệ hạ đã nhiều tuổi. Thiếp không dám oán bệ hạ, chỉ hận là mình sinh sau đẻ muộn quá!” Nhà vua nghe xong nói: “Ta dù già nhưng nàng lấy được ta thì được làm chánh hậu sớm đến mấy năm”.
 
Nghe thấy lạ, Mạnh Doanh mới dò hỏi các cung nữ mới biết chuyện đánh tráo con dâu của Sở Bình Vương. Mạnh Doanh buồn rầu cứ khóc thầm mãi. Về sau, Sở Bình Vương hứa sẽ lập con trai nàng làm thái tử, nàng mới nguôi dần. Tuy nhiên, để lập con của Mạnh Doanh làm thái tử, Sở Bình Vương buộc phải phế bỏ ngôi vị thái tử của Thái tử Kiến. Thế là, Sở Bình Vương để chiều lòng người đẹp và có lẽ cũng để khỏi ngượng mặt với đứa con bị mình cướp mất vợ nên đã gán cho Thái tử Kiến tội làm phản, cho người truy sát khắp nơi rồi giết chết.
 
Vua hoang dâm vụng trộm với vợ của vua cha rồi cướp luôn vợ của con trai

Khi chưa lên ngôi vua, Vệ Tuyên Công đã vụng trộm với một người thiếp của cha mình là Di Khương. Đến khi lên ngôi, Tuyên Công bất chấp mọi lời can ngăn của quần thần, lập Di Phương làm Chính phi rồi phong cho con trai của Di Khương là Cấp Tử làm Thái tử.
 
Đến năm Cấp Tử được 16 tuổi, Vệ Tuyên Công cho người sang hỏi cưới Công chúa nước Tề là nàng Tuyên Khương về làm Thái tử phi. Tuy nhiên, tới khi nghe nói rằng nàng Tuyên Khương là một mỹ nữ nhan sắc tuyệt trần thì Vệ Tuyên Công lại không thể kiềm chế được dục vọng của mình và quyết định chiếm cô con dâu tương lai về làm của riêng. 
 
Vệ Tuyên Công sai người làm một cái đài thật đẹp gọi là Tân Đài rồi cho đưa nàng Tuyên Khương lên ở trên đó. Để thuận tiện cho việc chiếm đoạt con dâu, Vệ Tuyên Công sai Cấp Tử đi sứ nước Tống còn mình thì về Tân Đài ăn ở như vợ chồng với Tuyên Khương. Khi Cấp Tử đi sứ trở về thì thái tử phi vợ mình nay đã trở thành mẹ kế, thứ phi của vua cha mình. Tuy nhiên, tấn bi kịch của ông vua hoang dâm vô độ này chưa dừng lại ở đó.
 
Ăn ở với Vệ Tuyên Công, Tuyên Khương sinh được hai người con trai. Vì muốn giành ngôi thế tử kế thừa ngai báu nước Vệ cho con trai mình lại ngại vì chuyện từng là vợ nay lại thành mẹ kế nên Tuyên Khương tìm mọi cách để giết Cấp Tử. Tuyên Khương nói với Vệ Tuyên Công rằng: “Cấp Tử cố tình làm nhục thiếp. Nó nói ‘mẹ ta là vợ của ông nội mà cha ta còn lấy được huống hồ Tuyên Khương vốn thực là vợ ta, chẳng lẽ ta không lấy được sao, chẳng qua ta chỉ cho cha mượn đỡ mà thôi”.
 
Nghe dèm pha nhiều lần, Vệ Tuyên Công cuối cùng cũng không chịu được sai người đi giết Cấp Tử. Con của Tuyên Khương là công tử Thọ không ngăn được bèn lập mưu lừa bọn sát thủ để chết thay anh. Cấp Tử biết chuyện, đau đớn quá, cũng tự giơ đầu cho chúng chém nốt.
 
Vệ Tuyên công nghe tin cả hai con trai đều bị giết thì ngã vật ra giữa long sàng, kêu lớn: “Đứa con gái nước Tề đã hại cả nhà ta rồi”. Từ đó Tuyên Công sinh bệnh, chỉ nửa tháng là chết trong sự buồn phiền và uất giận đối với Tuyên Khương. Nhưng có lẽ ông vua nước Vệ quên mất rằng, không phải Tuyên Khương mà chính sự dâm loạn và ngu tối của ông ta mới là nguyên nhân dẫn tới bi kịch.
 
Chuyện trộm vợ của cha thay đổi cả một triều đại 
 
Câu chuyện trộm vợ của vua cha nổi tiếng nhất có lẽ là chuyện của Hoàng đế Đường Cao Tông Lý Trị và người mẹ kế bị Lý Trị chiếm đoạt không ai khác chính là vị nữ hoàng nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc: Võ Tắc Thiên. Võ Tắc Thiên vốn tên thật là Võ Chiếu, sinh năm 625, trong một gia đình quý tộc ở tỉnh Sơn Tây của Trung Quốc.
 
Theo ghi chép của sử sách, thì Võ Chiếu vào cung của vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân làm tài nhân (người thiếp cấp thứ 5 trong hậu cung) năm 635 khi mới 10 tuổi. Có lẽ vào cung khi còn quá nhỏ, nên Võ Chiếu không được Lý Thế Dân sủng hạnh mà chỉ được làm một người hầu việc bút mực cho Hoàng đế. Thế nhưng không phải vì thế mà Võ Chiếu không được Thái Tông chú ý tới. Thấy tên Võ Chiếu của nàng không hay, Thái Tông bèn đổi tên cho nàng thành Mỵ (với nghĩa là xinh đẹp, dịu dàng), vì vậy, ngày nay người ta còn gọi Võ Tắc Thiên là Võ Mỵ Nương.
 
Khi Võ Mỵ Nương bước vào tuổi lớn thì cũng là lúc Lý Thế Dân đã về già. Ông vua qua đời ở độ tuổi 50 này có lẽ không có nhiều thời gian để quan tâm đến tâm tư của một người thiếp mới đang ở độ tuổi mới lớn. Chính vì vậy, trong thời gian này, Võ Mỵ Nương bắt đầu để ý đến một người trẻ hơn, đó chính là thái tử Lý Trị.
 
Dù chỉ kém nhau 3 tuổi, tuy nhiên, về thân phận thì Võ Mỵ Nương là vợ thứ của Đường Thái Tông, nghĩa là mẹ kế của Lý Trị. Vì vậy, lúc bấy giờ mặc dù Lý Trị rất thích Mỵ Nương và muốn chiếm nàng về làm của riêng song chỉ dám giấu kín chuyện đó trong lòng. May sao, tới năm 649, Đường Thái Tông qua đời. Tuy nhiên, theo luật lệ nhà Đường lúc bấy giờ, khi Hoàng đế băng hà thì Võ Mỵ Nương phải xuống tóc, vào chùa Cảm Nghiệp tu hành để tỏ lòng trung trinh với tiên đế.
 
Nhưng Võ Mỵ Nương chẳng phải đợi lâu. Chỉ hai năm sau đó, nhân một chuyến lên chùa Cảm Nghiệp thắp hương, Cao Tông Lý Trị gặp lại người trong mộng một thời của mình và quyết định đưa nàng trở lại cung. Hành động của Cao Tông đã gặp phải sự ngăn cản quyết liệt của các đại thần. Bởi lẽ, Võ Mỵ Nương dù đã xuống tóc nhưng danh nghĩa vẫn là vợ cũ của Thái Tông, tức mẹ kế của Cao Tông. Nay Cao Tông làm vậy là đưa mẹ kế lên long sàng làm bậy, một hành động không thể chấp nhận theo con mắt của các nhà Nho.
 
Tuy nhiên, Cao Tông lúc này còn quản gì đến luân thường đạo lý mà các đại thần nhắc tới nữa. Ông vua trẻ vừa mới lên nắm quyền bất chấp tất cả đưa Võ Mỵ Nương về hậu cung phong làm Chiêu nghi. Rồi vài năm sau đó, bằng sự mưu mô và tham vọng của mình, Võ Mỵ Nương đã từ phận Chiêu nghi leo lên ngôi vị Thần phi, Hoàng hậu, Thiên hậu rồi Nữ hoàng mà như chúng ta vẫn thường gọi là: Võ Tắc Thiên.
 
Thái tử bị phế vì dám đong đưa với tì thiếp của vua cha

Đại Việt sử lược ghi nhận Hoàng đế Lý Anh Tông có ít nhất 6 người con, trong đó có Lý Long Xưởng sinh năm Tân Mùi, là con trưởng, được lập làm Đông cung Thái tử, tước Hiển Trung vương. Lúc đó, ngôi vị hoàng đế Đại Việt tương lai dường như đã cầm chắc trong tay Long Xưởng. Tuy nhiên, từ khi được lập làm Thái tử, Lý Long Xưởng chỉ lo ăn chơi, đàn đúm và đặc biệt vô cùng hoang dâm hiếu sắc, bất chấp loạn luân...
 
Để thỏa mãn dục vọng, Đông cung Thái tử Long Xưởng đã thông dâm với cả cung phi của vua cha Anh Tông. Sách Đại Việt sử lược viết: “Long Xưởng có tính hiếu sắc, trong cung có những cung nữ được vua yêu dấu, Long Xưởng đều tư thông với họ...”.
 
Phải nói thêm, Chiêu Linh Hoàng hậu biết rõ bản chất “xấu xa” của con, không những không can ngăn, mà còn bao che, giúp đỡ. Theo Đại Việt sử lược, vào buổi đó, trong số các phi tần, Vua Lý Anh Tông đặc biệt sủng ái bà Nguyên phi Từ Thị. Nhằm hạ bệ tình địch, Hoàng hậu Chiêu Linh đang tâm xúi con mình làm điều vô đạo, sai Long Xưởng ngầm giở ngón tư tình để mê hoặc Từ Thị, muốn cho bà Nguyên phi này bị nhà vua nhạt tình. Biết vậy, Từ Thị đem hết việc đó tâu vua...
 
Theo sử sách, vì vốn ghét Thái tử vô lễ, ăn chơi trác táng, rồi lại nghe chuyện Long Xưởng gan to hơn trời, ve vãn cả thiếp yêu của mình, Hoàng đế Lý Anh Tông giận dữ tột cùng, đã hạ chỉ phế Long Xưởng.
 
Sách Đại Việt sử kí toàn thư còn cho biết, vào tháng 9 năm Giáp Ngọ (1174), Lý Long Xưởng bị phế làm thứ dân và bị bắt giam một thời gian. Sau đến đời Vua Lý Cao Tông, vào năm Tân Sửu (1181), Long Xưởng ra tù, nhưng lại tụ họp bọn bất lương cướp bóc bừa bãi.
 
Theo VietBao.vn 
Thăm dò ý kiến Nhận xét của bạn về trang web này?
 
62%
 
10%
 
5%
 
21%