Đơn vị nào cắm cờ trên đình Phu Văn Lâu - câu hỏi 45 năm chưa có lời giải

Cứ ngỡ hết bom đạn là hết chết chóc đau thương, nào ngờ, lại thêm những cái chết oan nghiệt từ thói đố kỵ và lối tư duy sai trái ấy.


Chuyện tình của trung đoàn nếu viết hết có thể thành một cuốn sách dày độ vài trăm trang. Chuyện không những xảy ra sau ngày về đồng bằng được gần dân, mà ngay khi còn trên rừng xanh, khi còn trên bom dưới đạn, khi còn khó khăn thiếu thốn mọi bề. Thiếu đến mức mà chính uỷ trung đoàn xuống bệnh xá thăm hỏi thương binh chỉ biếu cho mỗi người một thìa cà phê muối trắng,có anh gói vào giấy bạc của bao thuốc lá, mỗi ngày nhâm nhi vài hạt và cũng chỉ được dăm ngày là hết.

Trong cái khó khăn thiếu thốn ấy, Trưởng phòng hậu cần lấy đó như một con bài câu nhử mấy cô gái non tơ từ đồng bằng lên rừng theo cách mạng. Ai là cán bộ, chiến sỹ của trung đoàn đều thuộc câu hát chế từ bài hát truyền thống: “Anh Sản ơi nâng đít em lên…” (đất Ba lòng nâng bước ta đi…), chả là ông ấy có nhiều thứ để tặng chị em, khi thì cân lương khô, khi vài phong đường ép, thịt băm vụn hộp... và không ít người trả ơn bằng cách…

Nhiều người bắt gặp cảnh ông ấy hành sự mọi lúc, mọi nơi, có lần ngay trên bờ khe, chỗ có nhiều sỏi đá. Cô gái không chịu được nên kêu lên như thế. Và cũng trong cảnh đói khát ấy, một anh quản lý bếp ăn đại đội đã mồi chài được cô du kích huyện đội Phú Lộc mà hậu quả để lại là 37 năm sau, sau khi nghe chúng tôi thông báo, buộc phải vào nhận con khi trên vai mang lon đại tá.

“Anh Sản ơi! Nếu anh đọc được chuyện này mong anh đừng nghĩ rằng em nói xấu anh. Đó là việc đời thường, anh cán bộ nào ở vào vị trí của anh cũng hành xử như anh cả thôi, có điều khéo khen cho anh, khi hết chiến tranh chẳng thấy cô nào mang con đi tìm anh”.

Kể lại những chuyện này không phải để mua vui độc giả, mà muốn nói một điều rằng: Cái chuyện ấy, chuyện đàn ông, đàn bà là chuyện muôn thưở, trời đất sinh ra như thế, không một thế lực nào có thể cấm đoán, ngăn ngừa. Khi có điều kiện là sinh sôi, khi có cơ hội là chớp lấy. Ai cố tình cấm đoán là người đi ngược lại qui luật nhân sinh. Và thực tế như mọi người đã biết: Cái chết của Kết, của Giáp, của Huyền… là những cái chết không đáng có. Đó là hậu quả của thói đố kị, ích kỷ, hẹp hòi, của một lối tư duy sai trái, phản khoa học đã kéo dài bao năm tháng.

Cứ ngỡ hết bom đạn là hết chết chóc đau thương, nào ngờ, lại thêm những cái chết oan nghiệt từ thói đố kỵ và lối tư duy sai trái ấy.

Tại buổi lễ kỷ niệm 40 năm giải phóng Huế, vị Đại tá Chính uỷ Sư đoàn 325 ôn lại diễn biễn của những ngày lịch sử, trong đó có đoạn nói rằng: Đơn vị ông đã kéo cờ lên cột cờ Phu Văn Lâu vào lúc 10 giờ ngày 25/3/1975. Nghe thế, cậu Chín nguyên trợ lý quân lực nói vào tai ông Huỳnh An:

- Nó bảo đơn vị nó vào Huế và cắm cờ vào ngày 25/3 thủ trưởng kìa. Thủ trưởng phải có ý kiến gì đi chứ!

- Kệ mẹ nó, muốn nói trời nói đất chi mặc nó, trong sử sách cũng đã ghi rõ: Trung đoàn Phú Xuân cắm cờ trên đỉnh Phu Văn Lâu và giải phóng Huế Vào 6h30 phút ngày 26/3 năm 1975. Nó nói gió bay qua, ai nghe nó lúc này.

Trước biển người rợp bóng cờ hoa của ngày lễ, ngồi bên đồng đội tôi lại nhớ đến ngày  ấy năm xưa...

...Đúng ngày 27/3, sau thời điểm vào Huế 1 ngày, đang lúi húi chuẩn bị bữa cơm trưa cho Trung đoàn trưởng,nghe tiếng lao xao ngoài cổng, một lúc sau thấy cậu Vệ binh chạy vào báo:

- Có mấy người xin vào gặp E trưởng. Tôi chạy lên gác báo cho anh Thanh. Anh ấy bảo tôi xuống hỏi họ gặp có nguyện vọng gì. Sau khi biết lý do tôi chạy lên báo lại, anh ấy bảo:

- Em xuống mời họ vào phòng khách.

Tôi biết mọi người đang rất bức xúc điều gì đó nên tươi cười pha trà, lấy thuốc, bánh kẹo mời họ. Trái lại, mặt anh nào cũng đằng đằng sát khí. Anh Thanh xuất hiện, nhìn lướt qua một lượt, nhìn những vật phẩm bày trên bàn tỏ ý hài lòng:

- Mời các đồng chí ăn kẹo, uống nước…

Một người nói cắt ngang:

- Chúng tôi đến đây không phải để ăn kẹo!

- Thế có việc gì các đồng chí cứ nói.

- Đề nghị ông trả lại công trạng cho đơn vị tôi.

- Đồng chí có thể nói rõ hơn.

- Khoảng gần 9 giờ sáng, 25/3, chúng tôi đã vào Huế. Trong khi đó các ông còn ở trên rừng xanh. Sáng 26 mới vào đến nơi, hạ lá cờ của chúng tôi xuống, kéo cờ của các ông lên, rồi ngang nhiên tuyên bố đơn vị các ông giải phóng Huế. Sao các ông làm trò nẫng tay trên như thế được?

Với bản tính bình tĩnh, anh ấy vui vẻ giải thích:

- Các đồng chí ăn kẹo, hút thuốc đi. Điều đó đơn giản thôi mà, chắc các đồng chí phóng viên không theo kịp diễn biến của cuộc chiến nên đưa tin như vậy. Ngày mai, tôi báo lên Quân khu để điều chỉnh lại.

- Nói như ông thì nghe được, còn nói như mấy thằng lính của ông chốt trên cầu An Hoà ai chấp nhận. Thôi! Ta mang thằng Ái về chôn, bên ta chết một, bên ông ấy chết một, coi như hoà.

Tôi theo chân mấy anh lính ra xe, trên ghế sau chiếc xe Zép, một người lính mặc quần áo Tô châu, đầu quấn băng trắng, máu vẫn còn vương đầy mặt. Trong buổi chiều giao ban hôm ấy, được biết: Đó là một trong 2 người lính của 2 đơn vị tranh cãi nhau ngày giờ và đơn vị cắm cờ trên đỉnh Phu Văn Lâu, bất hoà nên dẫn đến nổ súng bắn nhau, mỗi bên 1 người tử vong.

Ngày hôm sau, số người nhận là đã cắm cờ ngày 25/3 không thấy xuất hiện trên địa bàn TP Huế. Ngày giải phóng Huế được ghi nhận 26/3/1975.

Năm 2005, tại buổi gặp mặt CCB QK Trị thiên- Huế tổ chức tại hội trường QK4, tôi nhắc lại chuyện này và đề nghị trả lại sự thật cho lịch sử, bởi không nên kéo dài chiến tranh thêm một ngày, thế nhưng sự việc vẫn chìm vào năm tháng.

Như đã nói ở các kỳ trước, sự việc hạ lá cờ nửa đỏ nửa xanh trên đỉnh Phu văn lâu xuống và kéo lá cờ của trung đoàn 6 mang từ rừng xanh lên là có thật, với lý do: Lá cờ kia nhỏ hơn lá cờ của E6 và được kéo lên lúc 6h30 phút sáng 26/3, khi đó phóng viên chưa có mặt. 10h sáng hôm đó số anh em tham gia kéo cờ được ăn mặc chỉnh tề, lại hạ lá cờ ấy xuống rồi lại kéo lên để quay phim, chụp ảnh. Ngay sau đó các phương tiện truyền thông của trung ương và địa phương đều đưa tin theo sự kiện đó.

Sau khi sự việc xảy ra một số dư luận cho rằng: Việc lấy ngày 26/3 và đơn vị cắm cờ là trung đoàn 6 là ý đồ của cấp trên, nhằm tạo dựng thành tích cho trung đoàn trưởng, để xét phong tặng danh hiệu AHLLVT cho anh, bởi anh ấy là con rể của tư lệnh kiêm bí thư khu ủy QK Trị-Thiên-Huế.

Tôi nghĩ đó là một suy luận đơm đặt, vì sau đó không lâu, đầu năm 1976  anh ấy được điều đi khỏi trung đoàn để học văn hoá và chẳng ai đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng cho cá nhân anh. Tập thể trung đoàn cũng chẳng được phong tặng danh hiệu Anh hùng lần thứ 2.

Thiết nghĩ, nếu mọi quan chức và các phóng viên có trách nhiệm hơn để  đưa tin đúng sự thật thì sẽ không có thêm 2 người lính bỏ mạng vào sáng 27/3. Những cái chết thật oan nghiệt.

Tôi lấy tính mạng của mình để cam đoan rằng: Khi đơn vị đầu tiên của trung đoàn mang lá cờ được may từ trên rừng 12x8m vào đến Huế khoảng 6 giờ 26/3 đã thấy lá cờ xanh đỏ tung bay trên cột cờ Phu Văn Lâu. Họ đã hạ lá cờ nhỏ xuống và kéo lá cờ to mang từ rừng lên.

Chiều 26/3/1975, cùng với lái xe Tùng, và vài cán bộ tác chiến tháp tùng trung đoàn trưởng Trương Đình Thanh đến Mang cá nhận bàn giao từ anh Hồ Hữu Lạn, Trung đoàn trưởng của Sư 324. Lúc này tôi đã được điều lên phục vụ và bảo vệ cho Trung đoàn trưởng. Thành phố mới giải phóng nên không dám rời anh nửa bước.

Gần đây một số CCB  cung cấp thông tin: Đơn vị cắm cờ trên Phu Văn Lâu ngày 25/3/75 là người của E 101 thuộc sư đoàn 325 và ngay sau đó đơn vị này nhận lệnh theo đường QL1 tiến quân vào đánh chiếm Đà Nẵng. Đơn vị nào và ai là người kéo cờ đầu tiên lên đỉnh Phu văn Lâu cần một cuộc hội thảo của CCB các đơn vị từng tham gia mặt trận Thừa Thiên - Huế tháng 3/1975.

Tranh công đổ lỗi là chuyện thường ngày ở chiến trường. Lịch sử cần được ghi đúng lịch sử. Kéo dài chiến tranh thêm một ngày là điều người lính chiến không hề mong muốn.

10/10/2020. ĐHH

 

Thăm dò ý kiến Nhận xét của bạn về trang web này?
 
60%
 
10%
 
5%
 
23%